văn học chữ hán việt nam
Nội dung tờ Nam kỳ lục tỉnh báo chữ Hán, số tháng 7.1873 Hòa ước Nhâm Tuất toàn văn Ngay sau khi ký Hòa ước Nhâm Tuất, chính quyền thuộc địa cho khắc in, tại Sài Gòn, toàn văn nội dung bản hòa ước với nhan đề 和約書 ( Hòa ước thư ), bản in mộc bản này đang được lưu tại Gallica với ký hiệu A.27.
Những nghệ nhân đã biểu đạt hình thức chữ Việt (với các mẫu tự Latinh) theo các khối hình tròn hoặc vuông của chữ Hán hoặc kiểu chữ viết "ngược" chỉ đọc được dễ dàng khi nhìn phía sau trang giấy. Hướng thứ hai, biểu đạt hình thức chữ Việt theo dạng chữ viết vốn có nguồn gốc từ Phương Tây dùng cho hệ thống mẫu tự Latinh.
Chữ Nôm và chữ Hán hiện nay không được giảng dạy đại trà trong hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam, tuy nhiên nó vẫn được giảng dạy và nghiên cứu trong các chuyên ngành về Hán-Nôm tại bậc đại học. Chữ Nôm và chữ Hán cũng được một số hội phong trào tự dạy
Tác giả: Vũ Thế Khôi. Trong giới Hán học Trung Quốc và Việt Nam khá phổ biến ý kiến khẳng định rằng ngay từ cuối đời Tần (cuối thế kỷ thứ III TCN) chữ Hán đã bắt đầu được truyền vào Bắc bộ Việt Nam. Căn cứ duy nhất của họ là đoạn ghi trong Sử ký Tư Mã Thiên: "Năm 33 (tức 214 TCN - V.T.K.) Tần Thuỷ Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những
NHO GIÁO VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM. Sự hình thành của Nho giáo. 1.1. Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, "nho" là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi. NHO GIÁO là hệ thống giáo lí của các nhà nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả. Những cơ sở của nó được
Site De Rencontre Gratuit Comme Jecontacte. Bạn đang quan tâm đến Các Tác Phẩm Văn Học Chữ Hán phải không? Nào hãy cùng đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy! Tác phẩm văn học việt nam viết bằng chữ hán Có thể bạn quan tâm Tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục – Chị em Thúy Kiều – Nguyễn Du – Văn 9 Giới thiệu về tác giả Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc – Nguyễn Lê Tín Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12, tập 2 – Chí Phèo – Nghệ thuật thoát ra từ những kiếp lầm than – Sống chết mặc bay – Phạm Duy Tốn Ngoài văn học dân gian truyền khẩu, còn có một dòng văn học viết, đầu tiên là chữ Hán, sau đó là chữ Nôm, sau đó là chữ quốc ngữ như ngày nay. dòng văn học này đã trải qua nhiều thời kỳ. các văn bản sớm nhất được tìm thấy có niên đại từ thế kỷ thứ 10, được chia thành hai thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ X từ đầu thế kỷ 20 đến nay. bạn đang xem tác phẩm văn học bằng chữ Hán từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 12 Xem thêm Giới thiệu về tiểu thuyết Tắt đèn và đoạn trích Tức nước vỡ bờ – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng Vào thời kỳ này, văn học viết được viết bằng hai loại chữ viết chữ Hán và chữ viết. mặc dù sau một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt không bị đồng hóa mà dần dần hình thành nên bản sắc dân tộc riêng biệt. văn học du mục xuất hiện từ rất sớm, nhưng từ thế kỷ 16 văn học du mục mới thịnh hành và đến thế kỷ 16 văn học du mục chiếm một vị trí rất quan trọng. sự phát triển của ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học du mục phát triển. Xem Thêm BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ TẠI VIỆT NAM – Luật sư Đà Nẵng – Luật sư FDVN văn học và chữ viết hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ, văn học chữ Hán đã giữ vị trí thống trị trừ một vài trường hợp, chẳng hạn như triều đình hồ và tỉnh lỵ, nơi quan trọng ngôn ngữ du mục, mặc dù họ sử dụng chữ Hán, các tác phẩm văn học này vẫn mang đậm bản sắc và hồn quê Việt Nam như Bài thơ nam quốc sơn hà lý thương kiều, hịch tướng sĩ trấn hưng đạo, thơ ca ngợi chiến công của nghĩa quân và quân dân ta. ông già, trần quang khai, sư phạm mạnh mẽ, cáo binh ngoại nguyễn trai, Sau đây là những bộ sử được viết với tinh thần dân tộc đậm nét Đại Việt sử ký toàn thư của bệnh viện liên khoa, hoàng lê nhất thống chí của ngoại gia văn phải, w. Vào thế kỷ 15, văn học chữ Hán vẫn còn thịnh hành. tuy nhiên, văn học du mục vẫn liên tục phát triển. Nguyễn Trãi là người bảo vệ chữ Quốc ngữ và vận dụng chữ viết vào sáng tạo văn học. Tuyển tập thơ văn thời kỳ này là một trong những tuyển tập thơ lục bát cổ nhất còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Xem thêm Ý nghĩa nhan đề Những ngôi sao xa xôi – Giải thích nhan đề Những ngôi sao xa xôi Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 10, văn học du mục phát triển mạnh mẽ và thống trị văn học. các nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu đã ra đời thơ vịnh xuân hương, nguyễn du truyện kiều, đoạn thi tập và ngâm khúc chinh phục, ngâm thơ Nguyễn Cung oán ngâm khúc. w, từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ 20, các tác phẩm văn học chữ Quốc ngữ dần xuất hiện. Văn học Việt Nam ngày nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp làm cho văn học Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam đã dần dần thoát khỏi phong cách cổ điển bằng những tác phẩm kinh điển có sức nặng hơn, uyển chuyển hơn, chính xác hơn, gần gũi hơn với ngôn ngữ đời thường. năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam được xuất bản “tam tam” của hoàng ngọc thất, “canon quả” của nguyễn ngữ lục. trào lưu thơ mới được coi là một cuộc “cách mạng” về thơ, những quy tắc gò bó, những lối diễn đạt thông thường, những công thức bị phá vỡ, cảm xúc được thể hiện tự nhiên hơn, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Nhiều nhà thơ tài năng đã xuất hiện trong phong trào thơ mới thơ trong lu, thế lu, vũ đình, xuân điều, huy cận, tân da, nguyệt. Xem Thêm Nguyên lý tảng băng trôi trong tác phẩm Ông già và biển cả – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng Về sự trỗi dậy của văn học lãng mạn, có một nhóm tự lực văn đoàn được thành lập vào năm 1932, bao gồm nhất linh, khai hung, hoàng đạo, thach lam, và một số tác giả trẻ, w. Dù dòng văn học này đã có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Xem thêm Vẻ đẹp tiềm ẩn nhân vật chí phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn nam cao Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn, cần phải kể đến văn học hiện thực phê phán. các tác phẩm của trào lưu văn học này rất chân thực và thấm nhuần tinh thần khoan dung. phong trào này đã cho ra đời những tác phẩm thực sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước chân cuối cùng của nguyễn công tử, Đèn đường tắt, Vỡ đập, Vũ trong phung phí, Bi bo. by nguyen hong, chi pheo by nam cao, w. Cùng với hai phong trào trước, còn có một phong trào văn học cách mạng không lưu hành hợp pháp mặc dù đôi khi nó lưu hành một cách hợp pháp. trào lưu văn học này bao gồm các bài thơ của các chiến sĩ cách mạng trong tù và các tác phẩm đăng trên báo nước ngoài. Các tác giả tiêu biểu của phong trào này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thủy, Cách mạng tháng Tám thắng lợi, văn học hiện đại phát triển mạnh mẽ. những tác phẩm ra đời trong thời kỳ này như những cột mốc đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Phong, Vùng mỏ đất võ, Cuộc đụng độ của Nguyễn Đình Thi, Văn chính luận của Nguyễn Tuân, W. nó là kết quả của văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm, nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng đã ra đời phản ánh cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước, như Ông đồ. Trong gia đình có bảy người mẹ là người hầu của Phan Tứ, ở đất Quảng, mẹ là người nắm giữ binh khí của Nguyễn Thị. và các tác phẩm thơ Quê hương giang nam, Dáng đứng Việt Nam, Tiếng chim hót thu bon, Gió thổi cát trắng xuân quynh, w. Ngày nay, các nhà văn, nhà thơ đang cố gắng đưa văn học Việt Nam lên một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình và ổn định. Nguồn Danh mục Văn Học Vậy là đến đây bài viết về Các Tác Phẩm Văn Học Chữ Hán đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!
Website Email Tel TẮT BÁO CÁO KHOA HỌCÝ NGHĨA CỦA VIỆC ẢNH HƯỞNG CỦA CHỮ HÁN VÀO VIỆTNAM I. MỤC ĐÍCH CỦA BÁO CÁOKhi xã hội phát triển, nhu cầu giao lưu học hỏi, tìm hiểu lẫn nhau, cùngnhau phát triển càng được đẩy mạnh, nhất là khi nền kinh tế mỗi nước phát triểnở một trình độ nhất định nào đó thì xu hướng tìm hiểu những đặc trưng văn hoácàng được quan tâm, bởi lúc đó văn hoá chính là yếu tố để phân biệt các nướcvới nhau. Trung Quốc là một nước láng giềng của Việt Nam, có quan hệ lịch sửlâu đời và giao lưu ảnh hưởng với Việt Nam sâu sắc về về nhiều mặt, đặc biệt làvấn đề văn hoá. Bản thân tôi là một sinh viên chuyên nghành Trung Quốc học,việc nghiên cứu văn hoá Trung Quốc là điều rất cần thiết. Để tiếp cận và tìmhiểu sâu sắc nền văn hoá Trung Hoa, rào cản trước tiên có lẽ là vấn đề văn tự, cóđọc được chữ của họ thì mới hiểu được họ đã làm, đã nghĩ gì, văn hoá của họ đãtừng bước phát triển và ảnh hưởng ra bên ngoài như thế nào. Để giải quyết khókhăn này, các sinh viên chuyên ngành Trung Quốc học chúng tôi đã đượcnghiên cứu thứ chữ tượng hình này ngay từ trước khi đi sâu nghiên cứu các vấnđề về Trung Hoa. Càng học chúng tôi càng cảm thấy hứng thú, có lẽ bởi chúngtôi dần phát hiện ra cái ý nghĩa mà con Chữ Hán ẩn chứa, từ những chữ GiápCốt Văn, Kim Văn đầu tiên, cấu tạo của nó và cả sự diễn biến kỳ diệu về hìnhthể của những chữ Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành sau này. Hiểu được những ýtưởng người Trung Quốc xưa muốn gửi gắm qua những con chữ tượng hình -biểu ý này và nắm được những ảnh hưởng của nó đến các nước phương Đông,vấn đề đặt ra đối với con người ở các nước này là việc tìm hiểu ý nghĩa mà chữHán đã ảnh hưởng tới. Là một người sống ở một nước có sự ảnh hưởng của chữHán lại được học ở ngành Trung Quốc học khoa Đông Phương học trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn tôi cảm thấy đây là một việc làm rất cần thiếtbởi nó làm hoàn thiện hơn những tri thức của tôi đối với ngành học, thấy đượcmặt khác về ý nghĩa của chữ Hán đối với Việt Nam. Quan trọng hơn nữa là vấnđề văn hoá, sự ảnh hưởng của chữ Hán vào các nước phương Đông và lưu lại1Website Email Tel ảnh hưởng hết sức sâu đậm ở Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiênđã tạo thành một vòng quay văn hoá hết sức đặc trưng của khu vực Ý NGHĨA CỦA VIỆC ẢNH HƯỞNG CHỮ HÁN VÀO VIỆTNAMĐể hiểu được ý nghĩa của chữ Hán đối với Việt Nam, chúng ta hãy xemchữ Hán xuất hiện như thế Sự xuất hiện chữ HánCó thể nói khi loài người xuất hiện cũng là lúc ngôn ngữ xuất ngôn ngữ nói không thể truyền lâu dài, truyền xa, và chính xác được. Dovậy theo sự phát triển của xã hội con người, nhu cầu lưu lại những kinh nghiệmsản xuất, đấu tranh hoặc truyền đạt những ý tưởng, tình cảm, hoặc tâm tưnguyện vọng, từ nơi này đến nơi khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác phátsinh. Chữ viết được sáng tạo làm thoả mãn những nhu cầu một trong những loại chữ xuất hiện sớm nhất, khoảng 3500 năm, làloại văn tự tượng hình- biểu ý. Ban đầu con người ở đây cũng dùng hình thức “truyền miệng” để giao lưu tình cảm, truyền đạt tin tức, trao đổi tri thức và kinhnghiệm. Nhiều truyền thuyết Trung Hoa như Tam hoàng, Ngũ Đế đều đượcngười đời sau căn cứ vào truyền thuyết mà chấn chỉnh lại. Trước khi dùng chữviết, người Trung Quốc dùng phương pháp “ bện tết dây thừng” hoặc “ khắc lêngỗ” để ghi lại sự vật, phát minh ra bát quái dùng ký hiệu để ghi sự vật chính làmột sự tiến sáng tạo ra chữ viết không phải là của một hay vài người mà là sựsáng tạo của một đoàn thể người, của nhiều dân tộc cùng chung sống. Văn hoáthời kỳ sơ khai của Trung Quốc là sự sáng tạo của tộc người Hoàng Đế, tộc Viênđế, tộc Đông Di và Chữ Hán cũng tương tự như vậy. Do vậy người ta gọi chữTrung Quốc là Chữ Hán cũng là hiểu dựa trên nguyên lý này, vì tộc Hán là tộcchiếm dân số đông nhất 91,08% với nền văn minh phổ thông hiện nay của người Trung Quốc chính là Chữ Hán. TrungQuốc là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Nhiều dân tộc vẫn sử dụng hệ2Website Email Tel chữ viết riêng của họ, song Chữ Hán vẫn là thứ chứ được được dùng nhưmột ngôn ngữ chính, ngôn ngữ thông hành giữa các dân tộc với Hoàn cảnh lịch sử nào, điều kiện lịch sử nào đưa tới một đợt tiếpxúc lâu dài liên tục và sâu rộng của tiếng Hán đối với Việt NamViệt Nam vốn không có văn 179 trước công nguyên Triệu Đà đem quân xâm lược Âu 111 trước công nguyên nhà Hán đặt nền đô hộ ở Giao Chỉ, CửuChân - Một đợt tiếp xúc liên tục, sâu rộng, kéo dài trong nhiều thế kỷ. Năm 111trước công nguyên được coi là buổi đầu chữ Hán du nhập vào Việt Nam và trởthành thứ văn tự chính thức. Chỉ đến năm 905 khi họ Khúc giấy nghiệp và nhất là đến năm 938 khiNgô Quyền đại thắng quân Nam Hán đưa lại nền độc lập cho nước nhà thì đợttiếp xúc này mới thực sự chấm dứt nhân tố đưa đến một đợt tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng+ Sự thành lập bộ máy thống trị của người Hán, một bộ máy càng ngàycàng muốn đi sâu xuống tận cơ sở.+ Sự có mặt, sự cộng cư với người Việt của một khối lượng đông đảo“Kiều nhân” người Hán.+ Sự truyền bá của nền văn hoá Hán và sự ra đời của một tầng lớp tri thứcquý tộc người Việt Nam tham gia góp phần tuyên truyền ngôn ngữ, văn hoáHán. Sau thời kỳ Bắc thuộc là thời kỳ độc lập và tự chủ, qua nhiều triều đạiphong kiến Việt Nam trừ một số giai đoạn ngắn nước ta bị phong kiến phươngbắc xâm chiếm và đô hộ. Tuy Việt Nam độc lập và tự chủ nhưng Việt Nam vàTrung Hoa vẫn có mối bang giao về chính trị, trao đổi về kinh tế, sự giao lưu vềvăn hoá, thời kỳ này chữ Hán và tiếng Hán vẫn giữ vai trò chính thống tronggiấy tờ hành chính của ngôn ngữ, trong giáo dục khoa cử và cả trong các sángtác văn thực dân Pháp đặt nền thống trị ở Việt Nam, tiếng Pháp bắt đầu giữđịa vị chính thống. Biết tiếng Hán thời này là những tầng lớp sĩ phu của chế độ3Website Email Tel còn lại và những học trò của các nho sĩ đã thất thế, tuy nhiên không phải vìvậy mà việc tiếp xúc ngôn ngữ Hán vào Việt Nam hoàn toàn bị cắt đứt. Đặc biệtlà từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các nhà yêu nứơc Việt Nam qua sách báo chữHán đã tìm thấy những tư tưởng tiến bộ của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi,Tôn Trung Sơn và tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin .3. Ý nghĩa của việc ảnh hưởng chữ Hán vào Việt NamNếu trong thời phong kiến, Chữ Hán đóng vai trò là công cụ mở mangvăn hoá để người Việt Nam hiểu sâu đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, tiếp thu cácgiá trị của khu vực xây dựng các thiết chế Nhà nước, các thiết chế văn hoá caocấp, tạo nên giá trị văn hiến Đại Việt, thì khoảng trong hai mươi năm đầu củathế kỷ XX, Chữ Hán ở Việt Nam vẫn đóng vai trò ấy, đồng thời giới thiệu chongười Việt Nam những thành tựu, giá trị của văn minh thế giới, văn minh Âuchâu, Mỹ châu, Mỹ châu vốn được người Trung Quốc, người Nhật từng khác, Chữ Hán giai đoạn này còn là công cụ tuyên truyền yêu nướcvà cách mạng, ngôn ngữ của báo chí, văn chương. Các tác giả lớn của bộ phậnvăn học yêu nước và cách mạng giai đoạn này chủ yếu đều xuất thân từ cửnghiệp. Họ là linh hồn của những phong trào yêu nước sôi động đầu thế kỷ XXnhư phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục, phong trào chống sưu thuế, Họ dùng Chữ Hán làm thơ văn kêu gọi yêu nước với một nhiệt huyết chứa Hán đã trở thành phương tiện cho họ diễn đạt những khát vọng nhằm cứunước, cứu nòi viết chính cương, đường lối, cho phong trào, viết thư kêu gọiđồng bào, đồng chí, viết đối lion, điếu văn khi nghe tin đồng chí của mình bỏmình vì sự nghiệp lớn hay có khi ghi lại lời tuyệt mệnh của chính mình. Nộidung của các văn bản đã khơi dậy trong lòng mỗi người trách nhiệm với nonsông, giống nòi, trở thành vũ khí động viên, giác ngộ đồng bàoTrong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảngtiên phong, của giai cấp công nhân, một lần nữa người Việt Nam lại sung sướngđón nhận những tư tưởng tình cảm lớn của thế kỷ qua những dòng văn thơ Hánđiêu luyện, tràn đầy những sinh khí Email Tel là ý nghĩa về văn hoá, chính trị, tri thức khoa học của chữ Hán đối vớiViệt Nam. Còn một vấn đề nữa đó là vấn đề ngôn ngữ. Bởi qua một giai đoạntiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt lâu dài và liên tục đã làm nảy sinh nhiều hiệntượng ngôn ngữ đáng chú ý. Đây chính là nhiệm vụ đối với tầng lớp thanh niêntri thức trẻ hiện nay. Có rất nhiều người còn mơ màng về vấn đề cách đọc Hán -Việt, vấn đề chữ Nôm. Về cách đọc Hán - Việt Là cách đọc chữ hán của người Việt, bắt nguồntừ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường, chịu sự chi phối của ngữ âm hình thức cách đọc Hán Việt là do sang thế kỷ thứ X Việt Nam trởthành một quốc gia độc lập và tự chủ . Vì lý do chính trị đó tiếng Hán ở ViệtNam đã hoàn toàn cách ly khỏi tiếng Hán ở bên kia biên giới. Sau thế kỷ thứ 10tiếng Hán ở các triều đại Nguyên, Minh, Thanh vẫn tiếp tục diễn biến, không tácđộng một cách trực tiếp với vai trò quyết định như trước nữa nên tiếng Hán ởViệt Nam chịu sự chi phối của tiếng Việt. Cách đọc Hán Việt đã hình thành,phát triển và tồn tại đến ngày nay. Tầm quan trọng của cách đọc Hán Việt + Một lối đọc thuận lợi cho người Việt, có thể dùng đọc mọi văn bản Hán.+ Một căn cứ để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt.+ Một căn cứ để nghiên cứu chữ Nôm.+ Rất quan trọng đối với ngành Đông Phương mặt từ vựng, có ảnh hưởng hai chiều trong trong vốn từ Hán có tiếpnhận một số từ tiếng Việt, trái lại trong tiếng Việt cũng tiếp nhận nhiều từ củatiếng dụ những từ trong tiếng Hán ba la mật mít; phù lưu trầu; Giangsông; vả cây vả đều là những từ gốc tiếng Việt nhiều từ mượn tiếng Hán gọi là từ gốc Hán Có từ mượntừ trước lúc có cách đọc Hán - Việt nay còn lưu lại dấu vết trong tiếng Việt, cótừ mượn đọc theo cách đọc Hán Việt mà người ta thường gọi là từ Hán Việtchiếm một số lượng rất dụ Chè có cách đọc Hán Việt tương đương là Trà5Website Email Tel có cách cách đọc Hán Việt tương đương là LongĐuổi có cách cách đọc Hán Việt tương đương là TruyBuồng có cách cách đọc Hán Việt tương đương là PhòngChém có cách cách đọc Hán Việt tương đương là TrảmLà những từ gốc Hán mượn từ thời thượng ra một số ít vay mượn theo con đường khẩu ngữ theo cách phát âmđịa phương của Trung Quốc như mì chính, màn thầu, xà xíu, mằn thắn Tóm lại, từ Hán Việt là từ gốc Hán đọc theo cách đọc của Việt Nam bắtnguồn từ hệ thống ngữ âm cuối đời Đường. Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt còn có một hệ quả khác nữa là sự xuấthiện của chữ Nôm. Chữ Nôm dựa trên cơ sở chữ Hán và cách đọc Hán Việt làký hiệu văn tự tiếng Việt. Nhờ có chữ Nôm mà bảo tồn được nhiều áng văn thơbất hủ như thư Quốc Âm thời Hồng Đức của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều củaNguyễn Du, bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm…Chữ Nôm là một sản phẩm biểu lộ tài trí của người Việt nam trong sựnghiệp Việt hoá văn tự Hán trên cả ba mặt Âm đọc phải ngữ nghĩa và phạm visử dụng. Nó đã để lại cho sự nghiệp này hàng loạt những văn bản chứa đựngnhững nội dung phong phú, đa dạng, xúc tích đạm đà sắc thái dân tộc và giàutính sáng tạo độc đáo, có giá trị nghệ thuật và học thuật cao. Địa bàn hoạt độngcủa nó chủ yếu ở giấy tờ, sách vở, tiếng Việt mới là thứ tiếng đóng vai trò chủchốt và chiếm địa vị ưu thế tuyệt đối trong hoạt động ngôn ngữ số đông của toàndân Việt nam, từ vua quan cho đến toàn dân thiên Nôm thuộc loại hìnhghi âm. Xét trong mối tương quan với Chữ Hán, về đại thể Chữ Hán gồm 2 loại+ Loại chữ sử dụng các Chữ Hán hoàn chỉnh có sẵn để biểu thị các từtrong tiếng Việt theo cách dùng cả âm đọc âm Hán Việt lẫn ý nghĩa của chữ, vídụ chữ Tâm để ghi từ tâm có nghĩa là tim hoặc chỉ dùng âm như chữmột có nghĩa là chìm đắm, mai một đi nay dùng làm chữ Nôm để chỉsố từ “một” số 1.+ Loại chữ sáng tạo riêng để ghi từ trong tiếng Việt bằng cách ghép mộtsố Chữ Hán hoặc bộ phận của Chữ Hán và dùng thêm các dấu phụ. Ví dụ chữ6Website Email Tel hai chữ ba và lăng ghép lại để ghi chữ Blăng tức chữTrăng trong tiếng Việt cổ ghi âm. Chữ do hai chữ thảo cỏ vàchữ cổ ghép lại để ghi từ “cỏ” cỏ cây trong tiếng Việt vừa âm vừaýĐiều đáng quan tâm trước hết ở chữ Nôm là mặt kết cấu ngữ âm củavăn nghệ sĩ khó Email Tel LUẬNTrung Quốc là đại biểu của nền văn hoá Phương Đông trong suốt mấyngàn năm lịch sử. Văn hoá Chữ Hán Trung Quốc là chiếc nôi của văn minhPhương Đông, nó đã lắng trong tính cách, khí chất và tinh thần cốt cách của cácdân tộc Phương Đông. Chữ viết là phương tiện nối liền Phương Đông với thếgiới. Để tìm hiểu đặc trưng văn hoá Phương Đông cần tìm hiểu kỹ văn tự củaPhương Đông mà trong đó đặc biệt là văn tự của Trung Quốc. Bởi lịch sử ChữHán đã trải qua hơn năm lịch sử, ban đầu là chữ viết riêng của người Hánnhưng dần dần nó đã được phổ biến và lan toả ra vùng Đông và Đông Nam á,lưu lại một ảnh hưởng hết sức sâu đậm ở Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản cũngnhư nhiều vùng dân tộc ít người khác. Nó không chỉ có ý nghĩa phản ánh lịchsử, văn hoá, xã hội con người Trung Hoa mà còn phản ánh cả lịch sử xã hội conngười ở những vùng mà nó ảnh hưởng tới,là thứ chữ đầu tiên được nâng lênthành nghệ người Việt Nam, đặc biệt là một sinh viên khoa Đông Phương -chuyên ngành Trung Quốc nhận thức được ý nghĩa lớn lao mà hệ thống văn tựHán đã ảnh hưởng vào Việt Nam. Thiết nghĩ nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm làmột điều vô cùng quan trọng. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với văn hoá ViệtNam mà còn có ý nghĩa đối với văn hoá đặc trưng của phương Đông./. 9Website Email Tel LỤC10
Mấy cái văn thể đặc biệt do người mình bày ra mà người Tàu không có Bấy lâu nay, khi viết lên trên báo, nói về văn học cổ của nước ta, tức là văn học bằng chữ Hán, tôi thường có ý lấy làm bất mãn; cũng như khi bàn về vấn đề nước ta có quốc học hay không, tôi chẳng sợ mích lòng chi hết, nói "không". Nhơn đó có người mắng là "vong tổ", có người cười là "thờ Thích Ca ngoài đường". Họ nói gì đó họ nói, tôi thấy thế nào thì khai ra thế ấy; tôi muốn nói thiệt, vì tưởng nói thiệt là có ích. Thật vậy, ai có biết qua cái tình trạng văn học trong thế giới nó lớn lao rực rỡ là dường nào, mà cũng biết luôn cái ở nước ta từ đời Trần đời Lê cho tới đời Nguyễn kêu bằng văn học đó ra sao, rồi tự nhiên cũng phải lấy làm hổ thẹn mà thấy mình là thua kém quá, không đem so bì với ai được hết. Sự thật thì ở bên Tàu ngày nay, những tay nghe xa thấy rộng họ còn phải nhìn nhận văn học của họ xưa nay là kém các nước thay, huống chi văn học của ta thuở xưa chỉ là phụ dụng văn học của Tàu mà hòng đem phô trương với ai cho được! Ấy vậy mà người mình có kẻ đem ông Nguyễn Du sánh với ông Victor Hugo, cũng như đem vua Quang Trung sánh với vua Napoléon thứ nhứt. Khoe khoang, mà khoe khoang một cách dại dột quá, luống làm cho thức giả phì cười. Mà há những bị cười thế là thôi đâu, sự khoe khoang ấy nếu không đè hẳn xuống cho dụt đi thì nó dưỡng thành cái lòng tự đắc xằng cho người trong nước, cũng đủ làm trở ngại cho con đường tấn hóa vậy. Muốn đem hai cái văn học của hai người hay hai dân tộc mà so sánh nhau thì phải nhớ mà so sánh cả đằng lượng và đằng phẩm. Phẩm là nói về văn chương hay dở; lượng là nói về đồ trứ thuật nhiều ít. Sự hay dở vẫn có định bình, tuy vậy mỗi người mỗi ý, còn có thể cãi nhau được; chớ đến sự nhiều ít, thôi thì phân minh ra giữa đó, chẳng ai có thể dối ai. Ai đó đem Nguyễn Du sánh với Victor Hugo về đằng phẩm, đã chắc Victor Hugo không đến dở hơn Nguyễn Du rồi; nhưng đến về đằng lượng thì Victor Hugo trăm phần, Nguyễn Du sao cho được một? Một đằng chỉ có một cái kiệt tác là Truyện Kiều với mấy chục bài thơ; còn một đằng kiêm cả thi gia, tiểu thuyết gia, sử học gia, không biết bao nhiêu là cái kiệt tác, thì đem mà so sánh làm chi cho chúng thấy chúng cười? Mình là dở, mà biết mình là dở, còn mong có ngày nhờ gắng học mà hóa hay bằng người ta. Đến như mình là dở, mà không tự biết, cũng nói mình hay hơn người ta hay là bằng người ta, thế là vừa tự khi, vừa tự đại, không làm thế nào tấn bộ nữa được một người đã vậy mà một dân tộc cũng vậy. Vì vậy mỗi khi nói đến sự học ở nước mình, tôi thường khai thiệt cái dở của mình ra cho ai nấy biết. Trong ý tôi muốn rằng chúng ta đã biết mình là dở thì phải gắng học cho nên hay; chớ không có ý gì bội bạc người xưa cùng là khinh thị cái văn hóa cũ của xứ mình hết. Chẳng những thế thôi, khi nào thấy ta có điều đáng đem khoe cho thiên hạ biết thì tôi cũng chẳng bỏ qua một dịp nào. Văn học nước ta tuy không có thể so bì với văn học các nước trên thế giới, và cả đến nước Tàu, ta cũng thua họ nữa, nhưng riêng ta với họ, ta chẳng đến nỗi không có một cái đặc sắc nào đáng đem kể với họ đâu. Chúng ta có khoe được với họ chăng, là khoe những cái đặc sắc ấy, vậy mà người mình ít hay chú ý tới, trở đi nhè trong cái "vườn" không "hoang" mà "múa gậy"!... Hết thảy mấy nước ở Á Đông đồng văn với Tàu là Nhựt Bổn, Triều Tiên và nước ta. Mà nay xét xem trong những sách vở người Tàu làm ra, thấy họ có nói đến văn học Nhựt Bổn, Triều Tiên, còn nước mình thì họ ít hay nói tới. Có ít nhiều người Tàu lại ra ý khinh thị nước ta lắm, họ coi ta như là mọi rợ chi chi, chớ không hề biết ta là một nước đồng văn với họ nữa kia. Như thế, tưởng cũng chẳng nên trách gì, vì những đồ trứ thuật của người Nhựt, người Triều Tiên hay truyền bá qua Tàu, còn sách vở chữ Hán của ta đời trước không lưu truyền đến bên xứ họ, cho nên họ không biết đến ta là phải. Năm trước, một tờ báo Tàu trong Chợ Lớn có viết một câu rằng "Đã lâu cho đến giờ chúng tôi chưa hề thấy một người An Nam nào viết Hán văn cho thông". Coi đó thì đủ biết trong con mắt họ coi ta là ra thế nào! Thấy vậy nên trước kia tôi từng có chí thâu góp những cái tinh hoa về văn học chữ Hán của ta từ xưa rồi biên tập và in thành sách đặng lưu hành ở trong nước một mớ, còn một mớ thì truyền bá qua Tàu, hầu làm tài liệu cho những nhà học giả của họ khảo cứu mà biết được cái thiệt trạng của nước mình một ít. Nếu làm được vậy thì sự ích lợi vô hình ở tương lai không phải là nhỏ; mà ngay trong thời hiện tại đây cũng mong được rằng cái luận điệu của họ đối với ta sẽ nhờ đó mà day đổi đi. Nhưng có chí mà không có tiền thì thể nào làm nổi công việc lớn lao ấy? Cho nên tôi chỉ thuật lại ở đây đặng có vị đồng bang nào đủ sức làm được thì làm; còn tôi, tôi đi làm cái việc mà tôi có thể làm được. Năm 1929, tôi có viết trong tờ Quần báo ở Chợ Lớn bao nhiêu bài nói về học thuật tư tưởng của người mình hiện nay và nói về văn học chữ Hán ở xứ ta vào khoảng mấy chục năm về trước. Ấy là tôi muốn đem cái món hàng "người Việt Nam" mà quảng cáo cho dân Tàu đó; song tiếc thay, làm cái việc không công ấy khó mà nối nắm làm hoài hoài được! Trong bao nhiêu bài báo bằng chữ Hán đó, có một bài tôi để cái đầu đề như đã dịch ra làm đầu đề trên đây. Trong đó tôi chỉ vạch ra mấy cái đặc sắc của văn học xứ ta cho người Tàu biết vậy thôi. Nay đem thuật lại đây cho bà con anh em biết với, tưởng cũng là một sự có ích vậy. * * * Nước Việt Nam chúng tôi hơn ngàn năm nay tôn chuộng đạo Nho, hiệu là một nước đồng văn với Trung Quốc. Từ buổi triều Trần triều Lê, văn học rất thạnh, đời nào cũng có tay trứ thuật, nhưng cũ rồi, không kể làm chi. Gần đây, từ triều Nguyễn thống nhứt cả nam bắc, văn sự lại còn thạnh hơn xưa nữa. Tuy thế nước càng ngày càng yếu, nguyên nhơn cũng có bởi đó mà ra; nhưng nói riêng về một phương diện văn học thì hồi đó có nhiều tay danh nho, bộn bề nhà tác giả, thật cũng đáng gọi là cái quang vinh cho một nước vậy. Kể ra một ít người có danh tiếng hơn hết, là như ông Tùng Thiện Vương, tên là Miên Thẩm, con trai vua Minh Mạng, làm thay "thi bá" trong một đời, lại giỏi về thể văn tứ lục nữa, người đời bấy giờ đem sánh với Tào Thực, Trần Tư Vương, con vua Ngụy Võ đế bên Tàu, thật cũng xứng đáng thay. Lại như các ông Phan Thanh Giản, Cao Bá Quát, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Thông... người thì nổi tiếng về thi, người thì nổi tiếng về cổ văn, ông nào cũng có tập để lại, và văn từ đều thật là điển nhã. Mấy ông đó ông nào cũng có dịp làm quen và xướng họa với văn nhân học sĩ bên Tàu và được họ khâm phục thôi trọng cả. Đến nay ta đọc lại những văn chương của các ổng cũng còn thấy được cái lưu phong di vận thoang thoảng bên mình, thật là thạnh vậy thay! Tuy vậy, lấy con mắt chúng ta ngày nay mà xem thì thứ văn học ấy là văn học "chết" chớ không phải văn học "sống", là văn học "quý tộc" chớ không phải văn học "bình dân". Tại sao? Tại văn học với tiếng nói chia làm hai; vả lại thứ văn học đó chỉ thông hành ở giữa đám trí thức với nhau, thì sự không có ảnh hưởng, không có ích lợi gì cho xã hội Việt Nam hết, là rõ ràng lắm vậy. Vài chục năm nay, văn học Quốc ngữ dấy lên mà thay cho thứ văn học ấy là phải lắm. Dầu vậy mặc lòng, thứ văn học ấy, cái địa vị của nó tuy mất mà cái thế lực ngầm ngấm của nó vẫn còn; huống chi nó chiếm cái vị trí trên văn học sử của nước chúng tôi hơn ngàn năm nay, thì có lẽ nào bỏ nó đi mà không nói tới được? Tưởng những nhà khảo cổ ngày nay cũng nên tìm xét đến thứ văn học cổ của nước Việt Nam đó mới phải. Nay xin tạm để những cái khác ra, mà cùng độc giả các ngài riêng bàn về "mấy cái văn thể đặc biệt" của văn học chữ Hán nước chúng tôi. Vả mấy cái văn thể đặc biệt ấy là tự các nhà văn học nước Nam chúng tôi sáng tạo ra, chớ không phải bắt chước theo người Tàu vậy, vì nguyên người Tàu chưa hề có mấy cái văn thể ấy. Nói nội một điều đó, há chẳng làm cho nền văn học Việt Nam thêm sự vẻ vang, và nhà văn học Trung Huê há chẳng nên chú ý đến sao? Phàm các văn thể trải qua nhiều đời mà người Trung Quốc đã đặt ra, như cổ văn, thi, phú, tứ lục, từ xưa văn nhân nước chúng tôi đều làm được hết; duy có một thể "điền từ"[1], vì cớ âm điệu không giống nhau nên người Việt Nam biết mà làm được là rất ít. Nhưng cũng bởi không làm theo thể điền từ Tàu được, nên mới chế hóa ra mà làm một lối điền từ khác. Cho nên, kêu là mấy cái văn thể đặc biệt đó, nếu đổi đi mà kêu là lối điền từ riêng của người Việt Nam thì cũng không phải là không được đâu. Bởi vì mấy thứ đặc biệt ấy đều bởi cái âm điệu riêng của người Việt Nam mà thành ra vậy. Một là thể lục bát. − Trên sáu chữ, dưới tám chữ làm một câu; mà chữ thứ sáu của câu tám hiệp vận với chữ thứ sáu câu sáu vậy nên gọi là lục bát. Như Truyện Kiều có câu Hồ công quyết kế thừa ky, Lễ tiên, binh hậu, khắc kỳ tấn công. Thể lục bát ấy ban đầu bởi tiếng Việt Nam làm ra, phàm những câu ca dao từ xưa đến nay đều dùng thể ấy. Sau rồi bọn văn nhân lấy chữ Hán mà làm, bèn thành ra một thể riêng của Hán văn. Câu lục bát kể trên đó là chỉ một câu chữ Hán xen vào trong một cuốn truyện chữ Nôm đó thôi; chớ còn cũng có thứ sách làm bằng chữ Hán mà từ đầu đến cuối toàn dùng thể lục bát. Trong sử Việt có chép một chuyện mà ngày nay chúng ta đem kể ra vẫn còn thấy là thú. Chép rằng Hồi triều Lê, có ông mỗ tôi quên tên mà hiện không có sách để tra, xin lỗi cùng độc giả, đi sứ bên Tàu. Có người Tàu hỏi ông chớ thể văn lục bát có phải là tự người An Nam chế ra không? Ông ấy trả lời rằng "Thể lục bát là bắt chước theo kinh và sử, có điều tại các ông không biết đó thôi!" Người hỏi xin cắt nghĩa tới nơi. Ông ấy liền đọc câu Kinh Dịch Lục tam hàm chương khả trinh, Hoặc tùng vương sự vô thành hữu chung; lại câu trong Tống sử Đế dĩ Thái Xác hữu công, Sử chi tùng tự Triết tông miếu đình. Rồi ông cho hai câu ấy tức là cái nguồn cái gốc của thể lục bát đó. Ông ấy nói vậy chẳng qua mượn cái nguồn gốc ở kinh và sử để cho có vẻ nghiêm trang và cũng để dọa người hỏi mình luôn thể, chớ kỳ thiệt không phải là chánh luận. Hai là thể lục bát gián thất. – Thể nầy do lục bát mà suy diễn thêm ra. Trên câu lục bát có một câu song thất, mà trong câu song thất, chữ thứ năm của câu thất dưới hiệp vận với chữ thứ bảy của câu thất trên; rồi chữ thứ sáu của câu lục bát lại hiệp vận với chữ thứ bảy của câu thất dưới. Cho nên gọi là lục bát gián thất hay gọi là song thất lục bát. Như bài Thu dạ lữ hoài ngâm bằng Hán văn dài lắm, mở đầu rằng Thu dạ tịnh thiên quang ẩn ước Cách sơ liêm đạm chước kim bôi; Thiên thời nhân sự tương thôi, Phù sanh nhược mộng kỷ hồi vi hoan! Bài nầy dài lắm, không chép hết vào đây được. Nhưng bốn câu đó là một "giải", rồi sau cứ thế mà tiếp nối luôn, không có đổi khác gì cả. Bà là thể ca trù. – Thể nầy hồi đầu cũng dùng tiếng Việt Nam phổ vào lời ca cho cô đào hát, khách thưởng âm điểm trống nhỏ như là "điểm trù", cho nên gọi là "ca trù". Thứ cô đào ấy từ Quảng Bình Hà Tĩnh đổ ra mới có, mà có nhiều là ở Hà Nội và Nam Định, người Tàu nào có kiều cư mấy nơi ấy chắc có biết tới. Dùng chữ Hán làm bài hát, sự ấy trước chưa từng nghe; mới có đâu từ khoảng trăm năm trở lại đây. Hiện nay cô đào Bắc kỳ còn có hát được một bài bằng Hán văn hay lắm, như vầy Phong thanh nguyệt bạch, Tô Đông Pha Xích Bích chi du. Tích phùng thu kim hựu phùng thu, Thiên cổ hào tình nhân vị lão. Ngô đồng nguyệt hướng hoài trung chiếu, Dương liễu, phong lai diện thượng xuy. Vấn nam lâu kim dạ hà ky, Giang thôn chỉ kiến thiên biên nhận. Ngọc địch nhứt thinh, hàn đăng nhứt trản, Hoài giai nhân hề bất năng vương, Thu phong lan tú, cúc phương! Trong các ông Huê kiều có ông nào đi Hà Nội chơi thì chép bài ca nầy rồi ra đó mà bảo cô đào ca cho nghe, sẽ thấy cái âm điệu du dương mà uyển chuyển, nghe êm tai lắm! Ông Nguyễn Văn Thắng, người làng Yên Đổ, tỉnh Hà Nam, Bắc kỳ, đậu tam nguyên hồi trào Tự Đức, là tay văn học có tiếng nhứt trong thuở đó. Người thuở đó cho đến bây giờ cũng kêu là "Tam nguyên Yên Đổ" mà không kêu tên. Sau khi nước bị bảo hộ, ông ấy ở ẩn mà không ra làm quan, lấy sự uống rượu ngâm thơ làm vui, và thơ văn của ông làm ra nhiều lắm; nay trích lục hai bài ca trù bằng chữ Hán của ông cho biết. Bài thứ nhứt đề là Bùi Viên cựu trạch Bùi viên ngô cựu trạch, Tứ thập niên kim nhựt phú quy lai. Tùng tùng, cúc cúc, mai mai, Phiêu nhiên hữu, khưu hác lâm tuyền chi dật thú. Bành Trạch tố cầm ngâm cựu cú, Ôn công tôn tửu lạc dư xuân. Đông phong hồi thủ lệ triêm cân. Diểu thương hải tang điền kinh kỷ độ! Quân mạc thán Lỗ hầu chi bất ngộ, Như bằng tăng bạch phát phục hà vi? Quy khứ lai hề hồ bất quy! Bài thứ nhì đề là Bùi Viên đối ẩm Túy ông chi ý bất tại tửu, Nhi tại hồ sơn thủy chi gian Sơn mịch mịch, thủy sàn sàn. Ngô dữ tử chi sở cọng thích. Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh. Sở dĩ chung nhựt túy, đồi nhiên ngọa tiền dinh, Châu Bá Nhân độ giang, tam nhựt tinh bất vi thiểu. Mạc kiếu! mạc kiếu! Hà bất tợ đương sơ nhứt tiếu? Vương lang tửu kìm, bạt kiếm chước địa ca mạc ai! Khuyến quân cánh tận nhứt bôi! Hai bài của ông Yên Đổ đó đều có vẻ lâm li bi tráng; dầu cho lấy trình độ Hán văn mà luận đi nữa cũng không có thể bảo là không cao được vậy. Trong bài thứ hai vận dụng toàn những câu thành cú mà y như của mình đặt ra, thế mới lại càng khó hơn nữa. Có điều cả bài, câu nào cũng trục trặc, phải là tay ca cho thiện nghệ lắm mới ca nổi. Như trên đã nói, các nước ở Á Đông mà đồng văn với Trung Quốc là có ba nước Nhựt Bổn, Triều Tiên và Việt Nam. Thi văn của người Triều Tiên, tôi có đọc được một ít, coi cũng không có gì khác với Trung Quốc hết. Còn Nhựt Bổn thì có lối "Hòa ca" là văn thể riêng của họ; nhưng cũng là do theo lối thất ngôn tuyệt cú mà đổi khác sơ sơ đi đó thôi. Duy có ba cái văn thể đặc biệt trong chữ Hán mà của người Việt Nam chúng tôi sáng tạo ra đây, nếu đem cho nhà văn học Tàu phúng tụng thì ắt sẽ thấy có cái mỹ cảm khác thường lắm, cũng như họ ở bên Bắc Kinh Thượng Hải mà đi ăn cơm tây nấu thì theo kiểu tây mà những thịt, cá, rau, cải thì thuần là đồ thổ sản của Tàu! Ai dám bảo rằng người Việt Nam chúng tôi không có cái năng lực đủ mà sáng tạo kìa?[2] PHAN KHÔI ▲ Điền từ là một văn thể ở Trung Quốc do thi hóa ra, có từ đời Đường mà đến đời Tống về sau mới thạnh hành nguyên chú của PK. ▲ Những bài ca bằng chữ Hán trong bài nầy đáng lẽ sắp bằng chữ Hán, nhưng vì nhà in có ít chữ Hán quá, lúc nầy lại phải dùng làm việc khác nữa, nên xin tạm sắp bằng quốc ngữ nguyên chú của PK.
Tác giả Mã Đạt* Lược dịch Nguyễn Hải Hoành Trích yếu [của Mã Đạt] Trước giữa thế kỷ 10, vùng Bắc và Trung bộ Việt Nam hiện nay từng thuộc về Trung Quốc. Năm 968, sau khi xây dựng quốc gia tự chủ, Việt Nam lại giữ mối “quan hệ phiên quốc — chính quốc” lâu dài với Trung Quốc. Chữ Hán là chữ viết thông dụng của vùng này. Năm 1945, chữ Việt Nam Latin hoá trở thành chữ viết chính thức của Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử lâu dài, văn hoá Trung Quốc với vật mang là chữ Hán đã được truyền bá rộng rãi ở Việt Nam và có ảnh hưởng quan trọng tới nước này. Bốn giai đoạn truyền bá chữ Hán tại Việt Nam Nhà văn tự học nổi tiếng Châu Hữu Quang từng có lời bàn rất sâu sắc về sự truyền bá và phát triển chữ viết. Ông nói “Ở phương Tây lưu truyền một quan điểm nói chữ viết đi theo tôn giáo ’, thực tế là chữ viết đi theo văn hoá . Chữ viết nào thay mặt nền văn hoá cao hơn thì mãi mãi truyền bá tới các dân tộc có văn hoá thấp. Nói chung, sự truyền bá và phát triển chữ viết trải qua 4 giai đoạn giai đoạn học tập, giai đoạn mượn dùng, giai đoạn phỏng tạo và giai đoạn sáng tạo. Tính giai đoạn của sự truyền bá thể hiện rõ nhất trong lịch sử chữ Hán.”[1] Sự truyền bá chữ Hán tại Việt Nam đại để cũng trải qua 4 giai đoạn đó Thời kỳ đầu của sự du nhập chữ Hán là “giai đoạn học tập”; tiếp theo là “giai đoạn mượn dùng”; vào khoảng thế kỷ 13 bắt đầu “giai đoạn phỏng tạo” –– xuất hiện chữ Nôm. Cùng với sự xâm nhập của thực dân phương Tây, bắt đầu “giai đoạn sáng tạo” –– Latin hoá. Giai đoạn học tập Chữ Hán và Hán ngữ du nhập Việt Nam theo sự di chuyển nhân dân Trung Nguyên cổ đại. Dân tộc chủ thể của Việt Nam ngày nay –– Việt tộc Kinh tộc từng là một nhánh của Bách Việt cổ đại, tức Lạc Việt [?]. Tương truyền vào thời đại Việt Vương Câu Tiễn, một số người trong bọn họ đã có thể lợi dụng chữ Hán và Hán ngữ làm công cụ giao tiếp, bắt đầu lịch sử Ngô quốc và Sở quốc đi lại với nhau. Năm 333 TCN, sau khi nước Sở diệt nước Việt, trong quá trình người Việt liên tục di cư về phía Nam, người Việt đã mang chữ Hán, Hán ngữ Mân Việt ngữ cùng văn hoá và kỹ thuật sản xuất tiên tiến đến lưu vực sông Hồng. Năm 316 TCN, Tần diệt Thục, hơn 30 nghìn người bộ tộc Thục sau đó cũng dần dần di cư về phía Nam. Tại đồng bằng sông Hồng, năm 257 TCN, Hoàng tử Thục [蜀王子泮 Thục Phán?] tự lập mình là An Dương Vương. Người Thục một lần nữa mang chữ Hán đến lưu vực sông Hồng. Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, sau đó từng “đưa những người thường trốn tránh, người ở rể và người đi buôn” “đến đấy canh giữ”. Thời Triệu Đà, “Đồ dân” [dân di cư] từ Trung Nguyên không ngừng di cư tới sống chung với người Việt Nam. Trong quá trình sinh hoạt lâu dài hôn nhân lẫn nhau và trong quá trình sản xuất, đi lại, họ cũng dần dần trở thành người Việt Nam chính cống. Vì thời đó bộ tộc Việt Nam chưa có chữ viết nên chữ Hán và tiếng Hán bèn mọc rễ, nở hoa, trở nên lưu hành trong Việt tộc. Đời Hán, các quan lại địa phương vùng Giao Chỉ, Cửu Chân như Nhâm Diên, Tích Quang “mở trường học, dạy lễ nghĩa”, tiến hành truyền bá chữ Hán và tiếng Hán một cách có ý thức, có tổ chức, có kế hoạch. Qua nhiều năm hăng hái chăm lo công việc, dốc sức giáo hoá, chẳng những trừ bỏ được những hủ tục mà còn “Dạy dân dần dần có lễ nghĩa”, làm tăng số người biết chữ Hán và tiếng Hán trong Việt tộc. Từ các sự thực kể trên ta thấy, trong thời kỳ Tần Hán, chữ Hán và tiếng Hán truyền vào Việt Nam xảy ra kèm theo sự di cư dân chúng gây ra bởi chiến tranh. Từ đời Tần Hán về sau, các đời phong kiến thống trị Trung Quốc xuất phát từ nhu cầu chính trị, kinh tế, đã không ngừng tăng cường truyền bá văn hoá. Điều đó khách quan đã làm cho Việt Nam sớm tiến sang thời kỳ văn minh, rút ngắn thời kỳ mông muội. Khi chữ Hán bắt đầu du nhập Giao Chỉ, vùng này còn ở trạng thái ngu muội nguyên thuỷ. Chữ Hán và văn hoá Trung Quốc truyền vào đã thúc đẩy Giao Chỉ chuyển sang xã hội văn minh. Thời kỳ này là “giai đoạn học tập” chữ Hán. Giai đoạn mượn dùng Trong hơn 1000 năm kể từ khi chữ Hán truyền vào cho tới năm 968 Việt Nam độc lập [tức thời kỳ Bắc thuộc], các quan lại quận huyện vùng Giao Chỉ Giao Châu, An Nam đều do các vương triều phong kiến Trung Quốc phái đến. Thái thú Giao Chỉ Tích Quang cuối đời Tây Hán, Thái Thú Cửu Chân Nhâm Diên đầu đời Đông Hán và Thái thú Giao Châu Sĩ Nhiếp thời kỳ Tam Quốc là những nhân vật nổi bật. Họ ra sức đẩy mạnh dạy chữ Hán, mở trường, thực hành giáo dục văn hoá Hán, dạy lễ nghĩa, thực hành chế độ một vợ một chồng, mở rộng áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến và văn hoá vùng Trung Nguyên. Các biện pháp cai trị như vậy đã thúc đẩy vùng Giao Chỉ từ chỗ ngu muội đi lên xã hội phong kiến “Thông thi thư, tập lễ nhạc” [Đọc hiểu Tứ thư ngũ kinh, tuân theo lễ nghi]. Đời Đường lập An Nam Đô hộ phủ. Các quan lại địa phương chú ý ra sức làm văn hoá giáo dục, dùng học thuyết Nho giáo để giáo hoá dân tục của xứ An Nam. Trong các thời kỳ lịch sử, do chiến tranh, loạn lạc mà có nhiều dân cư vùng Trung nguyên đã di chuyển đến Giao Châu. Trong số này có nhiều văn nhân, danh sĩ. Họ viết sách, lập chủ thuyết, truyền thụ các kinh điển Nho học. Những hoạt động học thuật đó đã nâng cao trình độ văn hoá và dân trí trong vùng, có tác dụng quan trọng đối với sự truyền bá văn hoá Hán. Vào đời Đường, tại xứ An Nam đã hình thành trào lưu nghiên cứu, học tập văn hoá Hán. Các nhân sĩ An Nam cũng tham gia khảo thí khoa cử như các nhân sĩ Trung nguyên. Khi ấy âm đọc chữ Hán, việc sử dụng Hán ngữ và dạy Hán ngữ ở An Nam đã hình thành hệ thống hoàn chỉnh, chính quy. Học giả Việt Nam Nguyễn Tài Cẩn cho biết “Cách đọc Hán Việt đối với chữ Hán của Việt Nam hiện nay bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm chữ Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm được giảng dạy tại Giao Châu vào thế kỷ 8 – 9”.[2] Năm 968, Việt Nam độc lập. Sau đó các triều đại phong kiến đều chủ động đẩy mạnh phổ cập và sử dụng chữ Hán, học văn hoá Hán tiên tiến để phục vụ sự cai trị của mình. Thời kỳ này là “giai đoạn mượn dùng” chữ Hán của Việt Nam. Giai đoạn phỏng tạo Khi tìm hiểu lịch sử sử dụng chữ Hán của Việt Nam, không thể bỏ qua lịch sử sử dụng chữ Nôm. Vào giữa thế kỷ 10, Việt Nam thoát khỏi ách cai trị phong kiến của Trung Quốc, xây dựng quốc gia tự chủ. Tuy Việt Nam luôn giữ mối “quan hệ chính quốc –– phiên quốc” với các vương triều Trung Quốc và sử dụng chữ Hán, nhưng cùng với sự không ngừng thức tỉnh và trỗi dậy về ý thức dân tộc và ý thức quốc gia, nước này luôn luôn có ý đồ sáng chế chữ viết của mình. Việc họ làm ra và sử dụng chữ Nôm là một chú giải tốt nhất của tâm trạng đó. Chữ Nôm là nói “Chữ Việt Nam được làm ra trong những năm mượn dùng chữ Hán, vì để viết tiếng Việt mà mượn dùng chữ Hán và bắt chước hình thức chữ Hán”. Chữ Nôm tức là “chữ viết của nước Nam”. Người sáng tạo chữ Nôm dùng các phương pháp hội ý, giả tá, hình thanh trong “Lục thư” làm phép tạo chữ. Chữ dùng phép giả tá, như chữ 固 có, mượn âm không mượn ý; chữ dùng phép hội ý, như chữ nghĩa là “ăn”; chữ tự tạo như chữ nghĩa là “buồn”. [trong bài này, những chữ bỏ trống là do trong máy tính của người dịch không có các chữ Nôm này] Chữ Nôm gồm chữ Hán mượn để viết tiếng Việt và chữ Việt Nam tự sáng tạo. Chữ Hán mượn dùng chỉ mượn âm không mượn nghĩa. Chữ tự tạo thì hoàn toàn mô phỏng kết cấu của chữ Hán, thường ghép hai chữ Hán thành một chữ Nôm, một bên biểu thị ngữ âm, một bên biểu thị ý nghĩa; có thể nói là vật thứ sinh [nguyên văn diễn sinh] tại Việt Nam của chữ Hán. Hán ngữ đã có cống hiến cực lớn vào việc hình thành và làm giàu ngôn ngữ quốc gia chính thức mà Việt Nam đang sử dụng –– Việt ngữ Latin hoá. Ít nhất có 60% từ vựng tiếng Việt là mượn từ Hán ngữ; sử gia Việt Nam Văn Tân cho rằng tỷ lệ này lên tới 70%. Ở thời nhà Trần, chữ Nôm từng được lưu hành rộng rãi, có một thời được dùng làm chữ viết chính thức, dùng song song với văn ngôn Hán ngữ. Đời nhà Hồ, Hồ Quý Ly còn dùng chữ Nôm dịch các kinh điển Nho học. Nhưng nhìn tổng thể thì trong quá trình lâu dài hơn 2000 năm Việt Nam sử dụng ngôn ngữ chữ Hán, người Việt Nam từ đế vương cho tới quý tộc, quan lại và văn nhân đều sùng thượng chữ Hán. Họ còn gọi chữ Hán là “Chữ Nho”, “Chữ ta”. Họ thờ phụng các kinh điển văn hoá Hán như thờ thần thánh, xếp các tác phẩm văn học do họ sáng tác bằng Hán ngữ ở địa vị độc tôn, mà xếp các tác phẩm sáng tác bằng chữ Nôm xuống địa vị thứ yếu, thậm chí có khi có thái độ khinh rẻ văn học chữ Nôm. Chữ viết là sản phẩm của sự phát triển xã hội đến một giai đoạn nhất định, “Nó tích tụ lắng đọng kết cấu văn hoá tâm lý của một dân tộc, phản ánh quan niệm tư duy của những người làm ra chữ viết, là sự chiếu rọi của lịch sử trên bình diện một thời đại”.[3] Sự xuất hiện chữ Nôm phản ánh tâm trạng của tầng lớp sĩ đại phu phong kiến Việt Nam mong muốn độc lập với Trung Quốc về văn hoá. Thế nhưng qua việc xem xét lịch sử phát triển văn học chữ Nôm, chúng tôi thấy thứ sản phẩm “dùng chữ tạo chữ” này đã thất bại [?]. Văn học chữ Nôm ra đời vào thế kỷ 13, hưng thịnh vào thế kỷ 18, trải qua quá trình phát triển gian nan quanh co hơn 5 thế kỷ. Kể từ ngày xuất hiện, chữ Nôm hầu như chưa nhận được sự thừa nhận và coi trọng của các vương triều Việt Nam. Cho dù triều nhà Hồ 1400 – 1407 và triều Nguyễn Tây Sơn 1771 – 1792 có thừa nhận và coi trọng chữ Nôm, Hồ Quý Ly còn hạ lệnh dịch các thư tịch Hán ngữ thành chữ Nôm, ba anh em họ Nguyễn [Tây Sơn] trong quá trình khởi nghĩa và sau khi lập triều đình đều đã đưa chữ Nôm lên địa vị chữ viết chính thức. Nhưng tiếc rằng triều nhà Hồ và triều Tây Sơn đều là những vương triều đoản mệnh, không kịp và không thể trong thời gian cai trị 7 và 20 năm có thể phát huy rực rỡ vai trò của chữ Nôm. Hoàng đế Minh Mạng nhà Nguyễn 1820 – 1841 sau khi lên ngôi từng ra chiếu thư cấm dùng chữ Nôm, nhất loạt lấy “Tự điển Khang Hy” làm tiêu chuẩn, sử dụng chữ Hán chính xác để viết lách. Chiếu thư này nhằm chấm dứt tình trạng giới sĩ phu trong xã hội khi viết văn bản thường viết chen chữ Nôm lẫn với chữ Hán. Các nhà Nho học Việt Nam chính thống đã tẩy chay và miệt thị sử dụng chữ Nôm; trong ý thức tầng sâu của họ chỉ có chữ Hán là chính tông, văn học chữ Nôm luôn bị coi là “văn học thông tục” [nguyên văn tục văn học] không được liệt vào hàng văn học thanh nhã. Vì thế không ít tác phẩm chữ Nôm của văn nhân Việt Nam sau khi hoàn tất đã không ghi tên tác giả, dẫn tới tình trạng trong lịch sử văn học Việt Nam xuất hiện nhiều tác phẩm chữ Nôm khuyết danh. Tâm trạng dân tộc “Trọng Hán khinh Nôm” này của người Việt Nam chắc chắn là một nhân tố quan trọng làm cho văn học Hán, văn hoá Hán tươi tốt lâu dài, còn ngôn ngữ dân tộc và văn học chữ Nôm không phát triển suôn sẻ. Do chữ Nôm và chữ Hán “về hình thức có tính đồng chất không chút sơ hở để bị công kích”, hơn nữa “hệ thống văn học tục thể Việt Nam còn xa mới có được sức sống của kết cấu từ nghĩa của chữ Hán”,[4] cho nên đến thế kỷ 17 [nguyên văn của tác giả] thì chữ Nôm bị chữ Quốc ngữ Latin hoá thay thế, chữ Nôm trở thành một loại văn tự chết, thế nhưng hiện nay vẫn có thể mượn chữ Hán để giải thích. Chữ Hán trở thành công cụ và cầu nối để phát hiện khai thác kho tàng văn hoá truyền thống Việt Nam. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam lập riêng một “Viện nghiên cứu Hán Nôm” tại “Trung tâm quốc gia khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam” để chỉnh lý các thư tịch chữ Hán và chữ Nôm của Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử sử dụng chữ Hán, Việt Nam hoặc là “câu nệ vào âm đọc chữ Hán, không phát triển huấn độc [đọc cưỡng chế theo âm khác] chữ Hán, qua đó thực hiện sự chuyển đổi chữ Hán từ biểu đạt Hán ngữ đến biểu đạt Việt ngữ”, hoặc là “câu nệ vào âm đọc chữ Hán, lại câu nệ vào hình thể của chữ Hán, chưa thành công thực hiện sự chuyển đổi từ chữ Hán đến chữ viết dân tộc, như Nhật và Triều Tiên đã làm”.[5] Bởi vậy cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng chữ viết rất nặng nề. Cuối cùng, sự xâm lược của cường quốc phương Tây đã dẫn đến một cuộc cách mạng chữ viết sâu sắc –– Latin hoá chữ viết. Thời kỳ Việt Nam sử dụng chữ Nôm là “giai đoạn phỏng tạo” chữ Hán. Giai đoạn sáng tạo Công cuôc Latin hoá tiếng Việt bắt đầu vào thế kỷ 16 – 17. Thời đó, các nhà truyền giáo châu Âu xuất phát từ nhu cầu truyền bá giáo lý Ki-tô giáo và khai thác thuộc địa, bắt đầu sử dụng chữ cái Latin để ghi chú các phát âm của tiếng Việt. Về sau họ dần dần mở rộng, hoàn thiện, mở màn giai đoạn Latin hoá tiếng Việt. Thập niên 30 thế kỷ 17, giáo sĩ người Pháp Alexander de Rhodes 1593 – 1660 làm ra phương án phiên âm Latin đầu tiên cho tiếng Việt –– chữ Quốc ngữ. Năm 1651, tại Rome, ông xuất bản “Từ điển Việt – Bồ – La”, được coi là sự mở đầu công cuộc phiên âm Latin hoá tiếng Việt. Từ đó chữ viết Latin hoá của Việt Nam trở thành một công cụ nữa để người Việt Nam thu nhận tri thức văn hoá. Nhưng mãi đến năm 1935, Chính phủ Việt Nam [triều đình Huế] dưới quyền cai trị của thực dân Pháp mới chuẩn y cho các nhà trường dùng chữ viết phiên âm để giảng dạy, và năm 1936 ra lệnh chính thức bỏ chữ Hán. Tháng 9/1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu chính thức xác định chữ viết phiên âm là chữ viết chính thức của Nhà nước Việt Nam. Việc sử dụng phổ biến loại chữ viết mới này, về hình thức dường như đã quét sạch dấu vết của văn hoá Hán, nhưng trên thực tế, ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc đối với Việt Nam vừa sâu sắc vừa lâu dài, một mệnh lệnh ban ra tuyệt đối không thể xoá bỏ được ảnh hưởng đó. Cho tới nay, trong ngôn ngữ của nhân dân Việt Nam vẫn còn có nhiều từ Hán ngữ; trong tập quán sinh hoạt và phong tục xã hội của dân Việt Nam còn giữ lại nhiều truyền thống của dân tộc Hán; trong giới trí thức và nhà cách mạng Việt Nam cận-hiện đại còn có nhiều người tinh thông Hán ngữ, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Hoàng Văn Hoan đều có trình độ Hán văn rất cao. Ảnh hưởng của chữ Hán tại Việt Nam Vào giữa thế kỷ 10, Đinh Bộ Lĩnh xây dựng nhà nước tự chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhưng trong mười mấy triều đại sau đó, chữ Hán luôn luôn là chữ viết thông dụng của Việt Nam. Trong hơn 400 năm từ đời Lý cho tới đời Trần, các văn nhân Việt Nam đã dùng chữ Hán viết rất nhiều tác phẩm, như “Việt sử cương mục”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “An Nam nhất thống chí”, “Lĩnh Nam trích quái”, “Đại Nam thực lục”, “Khâm định Việt sử cương giám cương mục”, “An Nam chí”. Nửa cuối thế kỷ 19, người phương Tây tiến về phương Đông, đặc biệt thực dân Pháp sau khi xâm nhập Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu thực dân, đã cưỡng chế phổ cập tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ, bài xích Hán văn. Thế nhưng, do nguồn gốc lịch sử sâu xa, Hán văn vẫn được nhân dân Việt Nam ưa thích. Cho tới thập niên 1920, Việt Nam vẫn dùng Hán văn xuất bản khá nhiều sách báo như “Trung học Việt sử toát yếu”, “Việt sử kính”, “Nam Phong tạp chí”. Sử gia Văn Tân nói “Ngôn ngữ văn tự Trung Quốc đã trở thành bộ phận hữu cơ trong ngôn ngữ văn tự Việt Nam. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ văn tự Việt Nam với ngôn ngữ văn tự Trung Quốc khăng khít hơn mối quan hệ giữa chữ Latin với ngôn ngữ Pháp. Vì vậy, nếu muốn thực sự hiểu ngôn ngữ văn tự Việt Nam thì không thể không hiểu ngôn ngữ văn tự Trung Quốc.”[6] Năm 1917, thực dân Pháp ra lệnh bỏ Hán văn, nhưng lệnh này không có hiệu quả rõ ràng. Năm 1937, Phủ Tổng đốc Việt Nam [?] công bố các số liệu Trong số các ấn phẩm xuất bản ở Việt Nam, có 6 loại báo Trung văn, 12 tập san Trung văn, trong khi chỉ có 4 loại tạp chí in chung Pháp văn, Việt văn và Hán văn. Thập niên 1940, dưới sự lãnh đạo của thế hệ nhà cách mạng lão thành Hồ Chí Minh, Bắc bộ Việt Nam được giải phóng. Tuy đã ra sức phổ cập chữ Quốc ngữ, nhưng vẫn còn không ít người thích dùng Hán văn làm thơ phú. Rất nhiều người Việt Nam tinh thông Hán ngữ. Như Hồ Chí Minh trong thời gian 1940 – 1942, khi bị giam trong các nhà tù ở Quảng Tây đã viết hàng trăm bài thơ có trình độ Hán ngữ rất cao, đặt tên là “Nhật ký trong tù”. Ngoài ra, Hoàng Văn Hoan, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng cũng có trình độ Hán ngữ khá cao. Trong lịch sử hơn 2000 năm sử dụng chữ Hán, chẳng những chữ Hán cùng Việt Nam chuyển tiếp từ xã hội bộ lạc nguyên thuỷ mông muội sang xã hội phong kiến, mà còn cùng Việt Nam đi hết giai đoạn xã hội phong kiến gần 2000 năm. Trong quá trình đó, chữ Hán đã đem nền văn hoá Hán có nguồn gốc xa xưa, sâu rộng không ngừng du nhập Việt Nam. Điều đó một mặt đã có những đóng góp không thể xoá bỏ cho sự tiến bộ của xã hội Việt Nam, cho sự phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật của Việt Nam; mặt khác, do văn hoá Hán đã thấm sâu vào đời sống văn hoá xã hội của Việt Nam, chữ Hán đã có tác dụng chuyên chở văn hoá Việt Nam. Đúng như học giả Việt Nam Văn Tân từng nói “Trước năm 1884, người Việt Nam khi viết sách thường dùng chữ Hán để thể hiện tình cảm, tư tưởng của mình. Vì thế trong kho tàng văn hoá Việt Nam có nhiều trước tác viết bằng chữ Trung Quốc.”[7] Qua đó có thể thấy chữ Hán, với tư cách là chữ viết chính thức Việt Nam sử dụng hơn 2000 năm, đã lập công lớn, không thể xoá bỏ. Trong lịch sử văn hoá cổ đại Việt Nam, chữ Hán và chữ Nôm là những vật liệu chịu tải xây đắp nên nền văn hoá của nước này, nhất là chữ Hán đã có ảnh hưởng toàn diện và sâu xa đối với văn hoá cổ Việt Nam. Thế nhưng, sau khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, chữ Hán và chữ Nôm đều dần dần bị chữ viết biểu âm thay thế. Quá trình này chẳng những là một biến đổi lớn về chữ viết của Việt Nam cận đại mà còn có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển văn hoá Việt Nam cận đại. Học giả Pháp 余傅华 [Yu Fuhua, chưa rõ tên tiếng Pháp là gì] bình luận “Loại chữ viết mới này nếu không nói là đã cắt đứt thân cây đại thụ Việt Nam và Trung Quốc thì ít nhất cũng làm cho Việt Nam tách rời Trung Quốc.”[8] Do nguyên nhân lịch sử, nông dân Bắc bộ Việt Nam “cho tới ngày nay, chẳng những thể hiện tình cảm truyền thống như với người biết chữ trong xã hội cũ, mà còn thể hiện một tình cảm sâu đậm nào đó đối với người nước ngoài đọc hiểu chữ Hán”.[9] Giới học giả Việt Nam thập niên 1950 có một quan điểm Mọi tác phẩm viết bằng chữ Hán dù có nội dung yêu nước mạnh mẽ đến đâu, dù viết vào thời kỳ lịch sử nào đều không được coi là văn học dân tộc. Vì thế, tạp chí “Văn Sử Địa” của Việt Nam từng triển khai một đợt thảo luận.[10] Sử gia Việt Nam nổi tiếng Minh Tranh cho rằng trước khi Việt Nam có chữ viết của mình, những tác phẩm mượn chữ Hán để viết, “nội dung và tinh thần có tính chất Việt Nam, phục vụ sự phát triển dân tộc Việt Nam, vì sao lại không thể xếp vào văn học Việt Nam?”[11] Sau cùng Văn Tân thay mặt tạp chí “Văn Sử Địa” đưa ra lời kết về cuộc tranh luận này, ông cho rằng “Nếu loại trừ các tác phẩm đó ra ngoài lĩnh vực văn học dân tộc thì lịch sử dân tộc ta sẽ thiếu hụt một mảng lớn.”[12] Qua cuộc tranh luận này có thể thấy mức độ quan trọng của chữ Hán đối với văn hoá dân tộc Việt Nam. Học giả Việt Nam nổi tiếng Phạm Duy Nghĩa từng kêu gọi Chính phủ Việt Nam phục hồi dạy chữ Hán tại Việt Nam than rằng “Từ sau khi chữ viết phiên âm thay cho chữ Hán, dường như người Việt Nam đã tự mình xây một bức tường ngôn ngữ và văn hoá ngăn cách các thế hệ sau với các thế hệ trước. Một số từ ngữ như luật, lệ, khế ước, phán quan bây giờ chỉ ngẫu nhiên thấy có trên sách vở. Phần đông người Việt Nam hiện đại rất ít cảm nhận được những triết lý văn hoá và giá trị tinh thần ẩn chứa phía sau các từ ngữ đó.”[13] Quan điểm này hiện khá lưu hành trong tầng lớp trí thức cấp cao ở Việt Nam. Lời kết Tổng quan những phần trình bày ở trên, tôi cho rằng Hán ngữ cấu tạo bởi chữ Hán, và văn hoá Hán mà nó chuyên chở, là bộ phận cấu thành quan trọng sự phát triển ngôn ngữ, văn học và văn hoá Việt Nam. Nhờ sự truyền bá chữ Hán mà chất đất màu mỡ cùng các dưỡng chất phong phú của văn hoá Trung Quốc đã thai nghén, nuôi dưỡng và tưới tắm nền văn hoá Việt Nam. Sự hưng thịnh của văn hoá Trung Quốc tại Việt Nam cũng kéo theo sự phát triển không ngừng của văn hoá bản địa Việt Nam, thúc đẩy bánh xe lịch sử – văn hoá toàn bộ Việt Nam không ngừng tiến lên phía trước. *Mã Đạt 马达, sinh 1965, người Hà Nam Trung Quốc, nghiên cứu sinh tiến sĩ Học viện Lịch sử tại trường Đại học Trịnh Châu Hà Nam, Phó Tổng Biên tập Thời báo Văn hoá; chủ yếu nghiên cứu lịch sử văn hoá cổ đại Trung Quốc. Bài này viết theo quan điểm của giới sử học Trung Quốc. Chúng tôi dịch bài này không có nghĩa là tán thành quan điểm của tác giả. Nguồn bài gốc tiếng Trung 论汉字在越南的传播及其影响 2012-08-11 Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau năm Bắc thuộc? ——————- [1] 赵丽明: 汉字传播与中越文化交流 [M]. 北京:国际文化出版社,2004. [2] Như trên. [3] 姜跃滨, 章也. 浮出翰海——汉语与汉文化的建构 [M]. 西安 陕西人民教育出版社, 1989. [4] 汪德迈. 新汉文化圈 [M]. 南昌:江西人民出版社,1993. [5] 吴受祥. 越南汉字使用史上的两次失误 [J] 解放军外语学院学报,1992, 5):40—46. [6] 中国社会科学院历史所. 古代中越关系史资料选编 [M]. 北京 中国社会科学出版社,1982. [7] 吴受祥. 越南汉字使用史上的两次失误 [J] 解放军外语学院学报,1992, 5):40—46. [8] [法] 余敷华. 中国面向世界 [M]. 袁树仁译。北京:三联书店,1987. [9] Như trên. [10] 梁志明. 论越南儒教的源流,特征和影响 [J]. 北京大学学报(哲学社会科学版),1995,(1):26—33. [11] Như trên. [12] Như trên. [13] 黄河黄. 越南汉字之殇 [EB/OL].
Nguồn gốc lâu đời của thơ chữ HánNhững bài thơ vang danh lưu truyền thiên cổTiểu thuyết chương hồi khai phát Chữ Hán là văn tự chung của các nước Á Đông cho đến thế đầu thế kỷ 20. Ngoài Trung Quốc, Việt Nam cùng với Nhật Bản, Triều Tiên Hàn Quốc, văn học chữ Hán phát triển rực rỡ, trở thành kỳ hoa dị thảo trong nền văn học Hán văn cổ điển. Nguồn gốc lâu đời của thơ chữ Hán Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, Việt Nam giành được quyền tự chủ vào cuối thời Đường. Do đó, văn hóa đời Đường có ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học chữ Hán Việt Nam. Không chỉ âm Hán Việt gần với ngữ âm đời Đường nhất, mà thơ Đường cũng được nền văn học cổ điển Việt Nam kế thừa và kéo dài. Thơ văn cổ Việt Nam khá giống thơ văn cổ Trung Quốc, đều mang một phong vị rất tiêu dao, hàm súc. Sau khi giành được độc lập, trăm việc ngổn ngang, đất nước lại cần phải phục hưng. Triều đại độc lập đầu tiên là nhà Đinh phúc phận ngắn ngủi từ năm 968 đến 980, thể chế chưa đầy đủ, chưa mở trường học. Vua Đinh Bộ Lĩnh ít chữ nghĩa, sau khi cầm quyền muốn dùng uy để cai trị thiên hạ, đặt cái đỉnh lớn trước triều đình, nuôi hổ trong chuồng, hạ lệnh ai trái lại sẽ bị đun chết hoặc cho hổ ăn. Mọi người đều sợ, không có người phạm lỗi. Do đó, triều Đinh không có nền văn học. Kế thừa triều Đinh là triều Tiền Lê 980 – 1010, phúc nước cũng ngắn ngủi giống triều Đinh. Các nhà văn, nhà thơ cũng chỉ thưa thớt, dù vậy đã để lại một số bài thơ chữ Hán sớm nhất còn lưu lại đến nay, tiêu biểu nhất là bài “Quốc tộ” Vận nước của thiền sư Đỗ Pháp Thuận. Quốc tộ như đằng lạcNam thiên lý thái bìnhVô vi cư điện cácXứ xứ tức đao binh Dịch thơ Vận nước chằng chịt dây leoTrời Nam khai mở ắt gieo thái bìnhVô vi xử thế cung đìnhĐao binh tự dứt thái bình nơi nơi. Năm 1010, triều Lý kiến lập liền dựng Văn miếu, mở khoa thi chọn nhân tài, văn phong dần dần phát triển. “Nam quốc sơn hà” Sông núi nước nam của đại tướng Lý Thường Kiệt là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất Nam quốc sơn hà nam đế cưTiệt nhiên định phận tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khán thủ bại hư Dịch thơ Sông núi nước Nam, vua Nam ởRành rành định phận tại sách trờiCớ sao lũ giặc sang xâm phạm?Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn Bài thơ này khí phách hào hùng, bút pháp nhuần nhuyễn, đặt vào cùng với Đường thi thì không hề thua kém. Sau thời Lý, văn thơ chữ Hán Việt Nam đã phát triển ổn định, chắc chắn. Có một điểm đặc biệt là rất nhiều bậc quân vương các triều đại đều yêu thích văn thơ chữ Hán. Các vua triều Trần đa phần giỏi văn chương, đến mức người Nguyên phải khen ngợi “An Nam tuy tiểu văn chương tại, vị khả khinh đàm tỉnh để oa” An Nam tuy nhỏ văn chương giỏi, chớ có coi thường chẳng phải ếch ngồi đáy giếng đâu. Lê Thánh Tông là “Tao đàn nguyên soái”. Ảnh Sau đó, vị vua đời thứ 4 triều Hậu Lê là Lê Thánh Tông 1442 – 1497 còn tự lập thi đàn, tự xưng “Tao đàn nguyên soái”. Thơ ông rất nhiều kiệt tác. Đến thời đầu triều Nguyễn, dù đã gần vào thời điểm mạt vận, các Hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cũng đều tinh thông văn thơ chữ Hán, đều có các bài thơ lưu truyền hậu thế. Vua Thiệu Trị 1807 – 1847 còn làm được 2 bài thơ thể “Hồi văn” là thể thơ lặp lại các từ với trật tự khác nhau, ngữ nghĩa khác nhau, có thể thấy trình độ Hán văn của vua rất cao. Một trong hai bài đó là bài thơ “Vũ trung sơn thủy” Non nước trong mưa Loan hoàn vũ hạ giang triều phiếmTrướng dật phong tiền ngạn bái hươngSơn tiêu ám vân thôi trận trậnLãng sinh khiêu ngọc trích thanh thanhSàn sàn thủy giản đài tư nhuậnDạng dạng ba châu liễu mậu vinhNhà điếu nhất chu ngư dật tấnHướng lâm song ông yến phi khinh Dịch thơ khuyết danh Dồn mưa nước cuộn triều dâng ngậpLộng gió sông đào bến biếc xanhNon phủ kín mây tuôn tới tấpSóng khêu thưa giọt gõ lanh canhLan man suối trải rêu tươi mậpSóng sánh cồn vươn cỏ tốt xanhNhàn thoáng một câu thuyền nhẹ tắpDóng rừng dăng kéo én bay nhanh. Đọc ngược đọc xuôi đều hợp luật có vần, có nghĩa, đọc ngược như sau Khinh phi yến tiễn song lâm hướngTấn dật ngư chu nhất điếu nhànVinh mậu liễu châu ba dạng dạngNhuận tư đài giản thủy sàn sànThanh thanh địch ngọc khiêu sinh lãngTrận trận thôi vân ám tỏa sơnThanh biện ngạn tiền phong dật trướngTấn triều giang hạ vũ hoàn loan. Dịch thơ khuyết danh Nhanh bay én kéo dăng rừng dóngTắp nhẹ thuyền câu một thoáng nhànXanh tốt cỏ vươn cồn sánh sóngMập tươi rêu trải suối man lanCanh lanh gõ giọt thưa khêu sóngTấp tới tuôn mây kín phủ nonXanh biếc bến đào sông gió lộngNgập dâng triều cuộn nước mưa dồn Thời đó có các nhà thơ văn nổi tiếng như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Bạch Hào Tử… Vua Tự Đức 1829 – 1883 đã làm thơ ca ngợi 4 nhà thơ văn trên như sau “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán. Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” Văn như Siêu, Quát thời tiền Hán chưa từng có. Thơ như Tùng, Tuy là thơ đã thất lạc của thời Thịnh Đường. Tuy có khuếch đại, nhưng bốn người này văn thơ quả là xuất chúng. Như bài thơ “Hoành Sơn vọng hải” Trên núi Hoành Sơn ngắm biển của Cao Bá Quát 1809 – 1855 Quân bất kiếnHải thượng bạch ba như bạch đầuNộ phong hám phá vạn hộc châuLôi khu điện bác hãi nhân mụcTrung hữu điểm điểm phù khinh âuHải khí quyển sơn, sơn như chỉSơn bắc, sơn nam thiên vạn lýCông danh nhất lộ kỷ nhân nhàn?Quan cái phân phân ngã hành hỹ! Dịch thơ Anh chẳng thấyTrắng phau sóng vỗ bạc đầuGầm gào gió thét thuyền tàu vỡ tanKinh người chớp giật sấm ranHải âu đôi chấm bồng bềnh biển khơiNon nam núi bắc xa vờiLạnh dầm hơi biển hao gầy vẻ nonCông danh đường ấy ai nhànNợ đời mũ lọng rộn ràng bước ta Bản dịch của Trương Việt Linh Từ cảnh biển rộng tráng lệ, mênh mông, nhà thơ đã cảm thấy công danh chốn nhân gian chính là một sự bó buộc lớn, thơ có khí khái của Lý Thái Bạch. Cao Bá Quát 1809 – 1855. Những bài thơ vang danh lưu truyền thiên cổ So với Trung Quốc thư tịch cổ nhiều như biển, Việt Nam đặc biệt thời kỳ đầu thư tịch vốn còn lại không nhiều, chủ yếu do chiến tranh loạn lạc liên miên kéo dài. Ví dụ, khi tiến đánh Việt Nam, quân Mông Nguyên đã tiêu 4 bộ “Đại tạng kinh” và 1 bộ “Đạo đức kinh” mà Việt Nam thỉnh về từ nhà Tống. Năm Thiệu Khánh thứ 2 nhà Trần, quân Chiêm Thành từ đường biển vào cướp Thăng Long Hà Nội ngày nay, đã cướp con cái, ngọc lụa, đốt hủy cung điện, “Tranh, bản đồ, thư tịch vì vậy đã bị mất sạch”. Nhưng những thư tịch chữ Hán còn lại vẫn có rất nhiều tuyệt tác. Lý triều Thái Tổ Lý Công Uẩn 974 – 1028 vào năm 1010 đã dời kinh đô đến thành Đại La đổi tên thành Thăng Long. “Chiếu dời đô” do ông viết được coi là tác phẩm văn học viết và văn hiến lịch sử sớm nhất còn lại hiện nay. Tác phẩm mở đầu đầu bằng “Xưa nhà Thương và Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương 3 lần dời đô”, đã viện dẫn các kinh điển để nói lý do dời đô, văn từ rất hào hùng, xứng danh là tác phẩm truyền đời. Đến thế kỷ thứ 13, khi đại quân Mông Cổ xâm lược áp sát kinh thành Thăng Long, quân đội triều Trần đứng trước quan nạn tan vỡ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 1226 – 1300 đã viết “Dụ chư tì tướng hịch văn”, còn gọi là “Hịch tướng sỹ”, khảng khái, phấn chấn ngút trời, cổ vũ ý chí chiến đấu của tướng sỹ bảo vệ quốc gia “Ta thường nghe Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao ế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính ức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc… Giặc Mông Thát với ta là kẻ địch không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?”. Trong bài hịch này, Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức Uất Trì Cung, Cảo Khanh anh họ Nhan Chân Khanh đều là những kẻ sỹ trung liệt trong lịch sử. Cũng trong triều Trần đã xuất hiện rất nhiều thơ phú chữ Hán, đáng tiếc là được bảo tồn đến nay chỉ còn mười mấy bài, “Bạch Đằng giang phú” Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu nổi tiếng một thời. Bài phú này mở đầu bằng “Giương buồm giong gió chơi vơiLướt bể chơi trăng mải miết” Cho đến cuối bài “Giặc tan muôn thuở thanh bìnhBởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao” Nhà thơ ví những lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng với các trận chiến nổi tiếng lịch sử. “Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bayTrận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụiĐến nay sông nước tuy chảy hoàiMà nhục quân thù khôn rửa nổiTái tạo công laoNghìn xưa ca ngợi” “Bạch Đằng giang phú” là một viên ngọc quý với những câu thơ tuyệt tác còn được lưu truyền đến tận ngày nay. Trong những tác giả này, vị trí cao nhất trong nền văn học chữ Hán thuộc về Nguyễn Trãi, khai quốc công thần triều Hậu Lê do cống hiến to lớn của ông đối với nền văn học Việt Nam. Năm 1980, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa liên hiệp quốc UNESCO đã tôn vinh ông là danh nhân văn hóa thế giới. Tác phẩm tiêu biểu của ông là “Bình Ngô đại cáo” nổi tiếng trên văn đàn và lịch sử Việt Nam. Bài hịch văn này trở thành “Thiên cổ hùng văn” lấy khẩu khí của Lê Lợi, hoàng đế sáng lập nhà Hậu Lê viết. Lời văn bình dị lưu loát, đọc lên thực sự xúc động lòng người, thực sự có giá trị nghệ thuật và giá trị văn hiến rất cao. Nguyễn Trãi 1380-1442 người làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, nay thuộc Chí Linh, Hải Dương. Ảnh Chữ “Ngô” trong “Bình Ngô đại cáo” là chỉ triều Minh, vì Chu Nguyên Chương đã từng xưng là Ngô Vương. Tư tưởng chính trong toàn bộ tác phẩm là lên án tội ác của triều Minh, đồng thời sử dụng nhuần nhuyễn các tấm gương lịch sử, các điển tích, trong lịch sử, văn học cổ đại Trung Quốc. Điều đó làm cho bài hịch văn đanh thép, luận cứ, dẫn chứng, chứng minh hùng hồn, đầy sức thuyết phục không chỉ đối với tướng sỹ, nhân dân, mà ngay cả đối với kẻ địch, làm nổi bật lên tư tưởng nhân nghĩa, chính nghĩa của cuộc kháng chiến “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dânQuân điếu phạt trước lo trừ bạoNhư nước Đại Việt ta từ trướcVốn xưng nền văn hiến đã lâuNúi sông bờ cõi đã chiaPhong tục Bắc Nam cũng khácTrải Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lậpCùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phươngTuy mạnh yếu có lúc khác nhauSong hào kiệt thời nào cũng có” Tiểu thuyết chương hồi khai phát Bốn bộ tiểu thuyết tiêu biểu của thời Minh Thanh lần lượt được truyền vào Việt Nam, trong đó “Tam Quốc diễn nghĩa” có ảnh hưởng lớn nhất. Theo “Bắc sứ thông lục” Ghi chép khi đi xứ Bắc triều của Lê Quý Đôn, từ năm 1760 đến 1762, ông đi sứ Trung Quốc, đã được đọc “Tây Du ký”, “Tam Quốc diễn nghĩa”… Khi trở về Việt Nam Lê Quý Đôn còn đem theo một bộ “Phong thần diễn nghĩa”. Lúc đó Việt Nam thường lấy các tích truyện trong các bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc viết thành các vở kịch. Hiện nay ở Bảo tàng Anh có lưu giữ hơn 50 kịch bản khắc gỗ của Việt Nam, trong đó có 9 vở có niên đại trước thế kỷ 19, là liên quan đến các câu chuyện Tam Quốc. Các vở kịch gồm có “Tam cố mao lư”, “Giang hữu cầu hôn truyện”, “Hoa chúc truyện”, “Kinh Châu phó hội”, “Hoa Dung đạo”, “Tiệt giang truyện”, “Đương Dương Trường Bản”… Bộ tiểu thuyết kinh điển “Tam quốc diễn nghĩa” có ảnh hưởng rất lớn đến văn học cổ điển Việt Nam, được các nhà tiểu thuyết gia Việt Nam coi là mẫu mực trong thể tiểu thuyết chương hồi, lịch sử. Bộ tiểu thuyết lịch sử chữ Hán đầu tiên của Việt Nam, đặt nền móng cho dòng văn học tiểu thuyết lịch sử Việt Nam là “Hoàng Việt xuân thu” ra đời vào giữa thế kỷ 15, gồm 60 hồi, chia làm 3 quyển thượng, trung, hạ, mỗi quyển 20 hồi. Bộ sách miêu tả giai đoạn lịch sử từ triều Hồ đầu thế kỷ 15 đến khi Lê Lợi lập ra nhà Hậu Lê. Tình tiết không phải quá hấp dẫn người đọc nhưng cũng khá hay. Trong “Hoàng Việt xuân thu”, mưu sỹ của Lê Lợi là Lê Thiện mà chính sử rất hiếm nhắc đến, là một nhân vật quan trọng. Ông là người hiến rất nhiều kế hay giúp Lê Lợi đánh thắng quân Minh như “Đầu thư thọ kế”, “Quyết sách công thành”, “Tượng trận thiêu đồn”, “Ngọc nhụy dụ địch”… Ông túc trí đa mưu, nhìn xa trông rộng, tính toán trong trướng, quyết thắng ngàn dặm, có thể so sánh với Gia Cát Lượng trong “Tam quốc diễn nghĩa”. Hai trăm năm sau, tiểu thuyết lịch sử cổ điển Việt Nam đạt đến đỉnh cao với bộ “Hoàng Lê nhất thống chí”. Đây là bộ tiểu thuyết viết vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, tương ứng với những năm cuối Càn Long và đầu Gia Khánh nhà Thanh Trung Quốc. Nội dung chủ yếu kể về sự diệt vong của triều Hậu Lê và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn của họ Nguyễn. Bộ sách có 17 chương hồi, Ngô Thì Chí viết 7 hồi đầu, sau đó Ngô Thì Du viết tiếp 10 hồi, Ngô Thì Nhiệm biên tập chỉnh lý. Do ba anh em họ Ngô đều trải qua thời đại miêu tả trong tiểu thuyết, tận mắt thấy nhiều sự kiện lịch sử nên bộ sách đảm bảo được sự thống nhất về nghệ thuật tiểu thuyết và sự thực lịch sử. “Hoàng Lê nhất thống chí” mang đậm sắc thái số mệnh. “Thiên mệnh” này dường như đang chi phối tiến trình phát triển lịch sử chứ không phải con người. Nhân vật trọng điểm mà bộ tiểu thuyết xây dựng là Nguyễn Hữu Chỉnh, khởi đầu làm môn khách của Diệp Quận phủ. Thầy ông là Hoàng Tố Lý đảng Đặng Phi bị giết chết trong cuộc chiến quyền lợi, Chỉnh trốn chạy đến Tây Sơn được anh em Nguyễn Nhạc trọng dụng. Sau đó ông dẫn quân Tây Sơn vào Thăng Long, có công bảo giá, được thiếu Chúa coi trọng, trở thành nhân vật quyền lực trung tâm. Ông quyền ngang vua, thế nghiêng thiên hạ, mọi người không dám liếc nhìn, cuối cùng bị quân Tây Sơn giết. Nhân vật ỷ thiên tử để lệnh chư hầu này có bóng dáng của Tào Tháo trong “Tam quốc diễn nghĩa”. Nhưng trong “Tam quốc diễn nghĩa” chỉ làm nổi bật lên một mặt “gian hùng” của Tào Tháo, bỏ qua tính phức tạp của tính cách nhân vật. Tính cách nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh trong ”Hoàng Lê nhất thống chí” được phản ánh như thực, một mặt rất có tài năng, công lao, một mặt tự tư tự lợi, tham lam tàn bạo. Rõ ràng hình tượng nhân vật này phong phú hơn hình tượng Tào Tháo nhiều. Có thể thấy, các nhà tiểu thuyết gia của Việt Nam không chỉ học theo tiểu thuyết Trung Quốc mà có nhiều thủ pháp nghệ thuật vượt hơn Trung Quốc. Bất luận thế nào, di sản văn học chữ Hán Việt Nam cũng trở thành một bộ phận của chỉnh thể văn học cổ điển Á Đông. Ngày nay, Việt Nam đã sử dụng ký tự La-tinh, tuy tiện phổ cập, dễ đọc, dễ học nhưng nhưng cũng gây ra nhiều điều đáng tiếc. Chữ Hán bị đoạt dứt khiến rất ít người có thể tiếp cận với kho tàng văn học, văn hóa truyền thống. Đó cũng là sự đứt đoạn trong mạch văn hóa truyền thống và hiện đại. Nếu không nối được mạch đứt văn hóa truyền thống này thì như cây không gốc, như nước không nguồn. Con người, dân tộc không có bản sắc riêng thì rất dễ bị biến dị, bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay. Nam Phương biên soạn
văn học chữ hán việt nam